Tổng quan bài viết

Số liệu mới: Phân tích ba chỉ số đánh giá kết quả thi tốt nghiệp THPT ở 34 tỉnh, thành

Bài phân tích đề xuất cách đối sánh mới qua ba chỉ số – điểm trung bình 4 môn, tổng điểm 2 môn nền tảng và tổng điểm 2 môn định hướng – nhằm đánh giá toàn diện chất lượng giáo dục. Số liệu từ 34 địa phương theo kết quả thi tốt nghiệp THPT, cùng những khuyến nghị giúp phụ huynh, học sinh và nhà trường hiểu rõ hơn thực trạng, định hướng cải thiện, đảm bảo công bằng chất lượng giáo dục.

Bối cảnh và Hạn chế của Các Thống kê Hiện tại

Sau mỗi kỳ thi tốt nghiệp THPT, dư luận thường quan tâm tới các bảng xếp hạng dựa theo điểm trung bình và số lượng điểm 10 của từng địa phương. Tuy nhiên, các thống kê này chỉ phản ánh một khía cạnh nhỏ, chưa đủ toàn diện để đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông bởi nhiều yếu tố ảnh hưởng, như điều kiện giáo dục và mức độ khó đề thi.

Đề xuất Bộ Ba Chỉ Số Đánh Giá Toàn Diện

Phân tích đề xuất sử dụng ba chỉ số: trung bình điểm thi 4 môn, tổng điểm hai môn nền tảng (ngữ văn, toán) và tổng điểm hai môn định hướng nghề nghiệp (theo tổ hợp thí sinh chọn thi). Trung bình điểm thi thể hiện mức độ hoàn thành chương trình chung; tổng điểm hai môn nền tảng phản ánh năng lực cốt lõi về ngôn ngữ và logic; tổng điểm hai môn định hướng cho biết khả năng học chuyên sâu, sự phù hợp định hướng nghề nghiệp và hiệu quả phân luồng. Đặc biệt, cách tính tổng điểm hai môn định hướng (bằng bốn lần trung bình điểm trừ đi tổng điểm hai môn nền tảng) được đánh giá là công bằng hơn do giảm ảnh hưởng của sự khác biệt số thí sinh chọn các môn tự chọn.

Phân Nhóm Kết Quả Tại 34 Địa Phương

Số liệu của Bộ GD-ĐT đối với 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập năm học 2024 cho thấy, chia thành hai nhóm: 17 địa phương có trung bình điểm thi từ 6,0 trở lên, 17 địa phương còn lại dưới 6,0 điểm.
Nhóm dẫn đầu có toàn bộ 5 địa phương vùng Bắc Trung bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, TP.Huế, Quảng Trị), 6 địa phương đồng bằng sông Hồng (Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh), 1 ở Trung du và miền núi phía Bắc (Phú Thọ), 1 ở Đông Nam bộ (TP.HCM) và 4 ở ĐBSCL (An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp).
Ba địa phương xuất sắc về cả ba chỉ số là Nghệ An (xếp hạng: 1-2-3), Hà Tĩnh (2-3-4), Ninh Bình (3-5-2). Ngược lại, Cà Mau (15-18-12), Cần Thơ (16-13-19), Đồng Tháp (17-14-18) đồng đều xếp cuối bảng.
TP.HCM, Hà Nội đạt điểm cao ở hai môn nền tảng nhưng thấp ở các môn định hướng, chủ yếu do gần 50% học sinh chọn tiếng Anh, một môn khó hơn, kết quả tương tự ở Quảng Ninh, Cần Thơ. Một số tỉnh như Phú Thọ, Quảng Trị có điểm nền tảng thấp nhưng điểm định hướng cao nhờ ít học sinh dự thi ngoại ngữ.
Ở nhóm dưới, chủ yếu là vùng núi phía Bắc (7/8 địa phương) cùng Nam Trung bộ, Tây Nguyên (6/6), Đông Nam bộ (2/3), ĐBSCL có Vĩnh Long. Một số địa phương như Tây Ninh, Khánh Hòa, Quảng Ngãi có điểm nền tảng cao nhưng điểm định hướng thấp do nhiều học sinh chọn ngoại ngữ; ngược lại, Vĩnh Long, Tuyên Quang, Lạng Sơn có điểm định hướng cao mà điểm nền tảng khiêm tốn.

 

Số liệu công bố của Bộ GD-ĐT và tính toán của tác giả

Khuyến nghị và Định hướng Cải Thiện Chất Lượng Giáo Dục

Các Sở GD-ĐT được khuyến khích công khai phổ điểm các môn, phân tích sâu ba chỉ số để xây dựng giải pháp cải thiện phù hợp, phát huy hiệu quả mô hình “trường hỗ trợ trường”. Bộ GD-ĐT nên xây dựng bộ tiêu chí về “Bối cảnh xã hội và giáo dục” – bao gồm học vấn phụ huynh, tỷ lệ học sinh đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện học tập – nhằm đảm bảo đối sánh công bằng giữa các trường có điều kiện tương đồng.
Việc tách biệt chỉ số xét tốt nghiệp và chỉ số định hướng sẽ giúp phụ huynh và học sinh xác định rõ mục tiêu: học tập toàn diện, nâng cao năng lực nền tảng hay phát triển nghề nghiệp. Bộ GD-ĐT cần đảm bảo độ khó các môn thi cân bằng, xây dựng ngân hàng đề minh bạch để tiến tới thi trên máy tính. Qua đó vừa hỗ trợ phân luồng, hỗ trợ định hướng nghề nghiệp, vừa đảm bảo công bằng giáo dục giữa các vùng miền.

Tin tức liên quan

// ===== HOMEPAGE =====