Dưới đây là đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn tỉnh/thành Lạng Sơn năm 2026 chính thức cùng đáp án và lời giải chi tiết từng câu. Tài liệu được cập nhật ngay sau khi kỳ thi kết thúc ngày 2026.
Thông tin kỳ thi vào lớp 10 Lạng Sơn năm 2026
- Ngày thi: 2026
- Môn thi: Ngữ văn
- Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
- Cấu trúc đề: Đề thi gồm 02 phần: Phần Đọc hiểu (4,0 điểm) với 05 câu hỏi tự luận ngắn dựa trên một văn bản thơ; Phần Viết (6,0 điểm) gồm 01 câu viết đoạn văn nghị luận văn học (2,0 điểm) và 01 câu viết bài văn nghị luận xã hội (4,0 điểm).
- Thang điểm: 10 điểm
Đề thi chính thức môn Ngữ văn Lạng Sơn năm 2026
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LẠNG SƠN
ĐỀ CHÍNH THỨC
KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2026 – 2027
Môn thi: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
Đề thi gồm có 01 trang, 07 câu
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc bài thơ sau:
MẸ
Viễn Phương1
Con nhớ ngày xưa mẹ hát:
…”Hoa sen lặng lẽ dưới đầm
Hương hoa dịu dàng bát ngát
Thơm tho không gian, thời gian”…
Mẹ nghèo như đóa hoa sen
Tháng năm âm thầm lặng lẽ,
Giọt máu hòa theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con.
Khi con thành đóa hoa thơm
Đời mẹ lắt lay chiếc bóng
Con đi… chân trời gió lộng
Mẹ về… nắng quái2 chiều hôm
Sen đã tàn sau mùa hạ
Mẹ cũng lìa xa cõi đời,
Sen tàn rồi sen lại nở
Mẹ thành ngôi sao trên trời.
(https://www.thivien.net)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể thơ của bài thơ trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra tên loài hoa được nhắc đến trong bài thơ.
Câu 3. (1,0 điểm) Trình bày cách hiểu của em về những dòng thơ:
Khi con thành đóa hoa thơm
Đời mẹ lắt lay chiếc bóng
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ:
Mẹ nghèo như đóa hoa sen
Câu 5. (1,0 điểm) Em hãy rút ra một bài học cho bản thân sau khi đọc bài thơ và nêu ý nghĩa của bài học đó (trình bày 05-07 dòng).
PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh người mẹ trong hai khổ thơ sau:
Mẹ nghèo như đóa hoa sen
Tháng năm âm thầm lặng lẽ,
Giọt máu hòa theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con.
Khi con thành đóa hoa thơm
Đời mẹ lắt lay chiếc bóng
Con đi… chân trời gió lộng
Mẹ về… nắng quái chiều hôm
(Trích Mẹ, Viễn Phương, https://www.thivien.net)
Câu 7. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề tự học của học sinh hiện nay.
—————-Hết—————-
1 Viễn Phương (1928-2005), quê ở An Giang. Ông là nhà thơ hiện đại tiêu biểu với hồn thơ trong sáng, xúc cảm sâu lắng, chân thành.
2 nắng quái: nắng gắt buổi chiều.
Đáp án và lời giải chi tiết đề thi môn Ngữ văn Lạng Sơn năm 2026
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
– Thể thơ: 6 chữ (Lục ngôn).
Câu 2:
– Tên loài hoa được nhắc đến trong bài thơ là: Hoa sen.
Câu 3:
– Cách hiểu về hai dòng thơ “Khi con thành đóa hoa thơm / Đời mẹ lắt lay chiếc bóng”:
+ “Khi con thành đóa hoa thơm”: Ẩn dụ cho sự trưởng thành, thành đạt, tỏa sáng và mang lại những giá trị tốt đẹp cho cuộc đời của người con.
+ “Đời mẹ lắt lay chiếc bóng”: Gợi hình ảnh người mẹ già yếu, cô đơn, mong manh, tàn tạ theo năm tháng.
=> Hai câu thơ tạo ra sự đối lập đầy xót xa: Sự trưởng thành, thành công của con được đánh đổi bằng tuổi xuân, sức khỏe và sự hy sinh thầm lặng của mẹ. Qua đó, tác giả thể hiện niềm xót thương, thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao to lớn của mẹ.
Câu 4:
– Biện pháp tu từ: So sánh (Mẹ nghèo như đóa hoa sen).
– Tác dụng:
+ Gợi hình: Làm cho hình ảnh người mẹ hiện lên cụ thể, sinh động, gần gũi với vẻ đẹp mộc mạc, bình dị.
+ Gợi cảm: Nhấn mạnh và ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất của người mẹ. Dù sống trong hoàn cảnh nghèo khó, vất vả nhưng mẹ vẫn giữ được tâm hồn thanh cao, trong sáng, thiện lương và giàu đức hy sinh (giống như hoa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”). Đồng thời, câu thơ thể hiện thái độ trân trọng, tự hào và tình yêu thương vô bờ bến của nhà thơ dành cho mẹ.
Câu 5:
Gợi ý trả lời (Học sinh có thể rút ra bài học khác nhau miễn là hợp lý, trình bày thành đoạn văn 5-7 dòng):
– Bài học: Cần biết yêu thương, trân trọng, hiếu thảo và biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.
– Ý nghĩa của bài học: Bài học này giúp mỗi chúng ta sống có đạo lý, có trách nhiệm hơn với gia đình. Khi thấu hiểu được sự hy sinh thầm lặng của mẹ cha, ta sẽ có thêm động lực để cố gắng học tập, rèn luyện, sống một cuộc đời ý nghĩa, trở thành “đóa hoa thơm” dâng đời để không phụ lòng mong mỏi và sự đánh đổi của mẹ. Lòng biết ơn cũng chính là cội nguồn nuôi dưỡng một tâm hồn đẹp, giúp con người hướng thiện và gắn kết tình cảm gia đình bền chặt.
PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 (2,0 điểm):
1. Yêu cầu về hình thức: Viết đúng hình thức một đoạn văn nghị luận văn học, dung lượng khoảng 200 chữ. Diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
2. Yêu cầu về nội dung: Phân tích hình ảnh người mẹ qua hai khổ thơ.
* Dàn ý gợi ý:
– Mở đoạn: Giới thiệu tác giả Viễn Phương, bài thơ “Mẹ” và khái quát hình ảnh người mẹ trong hai khổ thơ (người mẹ nghèo khó, hy sinh thầm lặng và mang nỗi buồn xót xa khi tuổi xế chiều).
– Thân đoạn:
+ Khổ 1: Vẻ đẹp thanh cao và sự hy sinh vắt kiệt mình của mẹ. Hình ảnh so sánh “Mẹ nghèo như đóa hoa sen” khẳng định dẫu hoàn cảnh cơ cực, mẹ vẫn giữ phẩm chất trong sạch, cao đẹp. Các từ ngữ “âm thầm lặng lẽ”, “giọt máu hòa theo dòng lệ” diễn tả sự hy sinh tột cùng, chịu đựng mọi đắng cay, vắt kiệt cả máu và nước mắt để chắt chiu “hương đời” – những điều tốt đẹp nhất ướp vào tương lai của con.
+ Khổ 2: Sự đối lập xót xa giữa con và mẹ. Phép đối lập “con thành đóa hoa thơm” >< "mẹ lắt lay chiếc bóng"; "con đi chân trời gió lộng" >< "mẹ về nắng quái chiều hôm". Khi con khôn lớn, vươn ra biển lớn cuộc đời thì cũng là lúc mẹ cạn kiệt sức lực, già yếu, mong manh như chiếc bóng trước gió, cô độc trong bóng xế cuộc đời ("nắng quái chiều hôm").
+ Nghệ thuật: Thể thơ 6 chữ nhịp nhàng, hình ảnh ẩn dụ, so sánh đặc sắc, từ láy gợi hình gợi cảm, giọng thơ trầm buồn, tha thiết.
– Kết đoạn: Khẳng định lại vẻ đẹp vĩ đại của tình mẫu tử và tình cảm trân trọng, xót thương sâu sắc của nhà thơ.
* Đoạn văn mẫu tham khảo:
Đọc hai khổ thơ giữa trong bài thơ “Mẹ” của Viễn Phương, người đọc không khỏi rưng rưng trước hình ảnh người mẹ nghèo với đức hy sinh cao cả. Mở đầu đoạn trích, nhà thơ sử dụng phép so sánh tuyệt đẹp: “Mẹ nghèo như đóa hoa sen”, qua đó ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, trong sáng của mẹ dẫu sống giữa hoàn cảnh cơ cực, bần hàn. Cả cuộc đời mẹ là chuỗi ngày “âm thầm lặng lẽ” chịu đựng gian truân. Đau xót hơn, mẹ đã vắt kiệt sức lực, lấy “giọt máu hòa theo dòng lệ” để chắt chiu, gom góp “hương đời” nuôi dưỡng con khôn lớn. Đến khổ thơ tiếp theo, một sự đối lập đầy nhức nhối hiện ra. Khi con trưởng thành, rực rỡ như “đóa hoa thơm”, vươn cánh bay đến “chân trời gió lộng” thì cũng là lúc mẹ cạn kiệt thanh xuân. Hình ảnh “lắt lay chiếc bóng” và “nắng quái chiều hôm” gợi lên sự già nua, héo úa, mong manh và cô độc của mẹ ở tuổi xế chiều. Sự thành công của con hôm nay được đánh đổi bằng cả cuộc đời tàn tạ của mẹ. Bằng thể thơ sáu chữ, nhịp điệu trầm buồn cùng hệ thống hình ảnh ẩn dụ, so sánh giàu sức gợi, đoạn thơ đã khắc họa thành công bức tượng đài vĩ đại về người mẹ, đồng thời đánh thức trong mỗi chúng ta lòng biết ơn sâu sắc đối với đấng sinh thành.
Câu 7 (4,0 điểm):
1. Yêu cầu về hình thức: Viết đúng cấu trúc một bài văn nghị luận xã hội (Mở bài, Thân bài, Kết bài), dung lượng khoảng 600 chữ. Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục.
2. Yêu cầu về nội dung: Trình bày suy nghĩ về vấn đề tự học của học sinh hiện nay.
* Dàn ý gợi ý:
a. Mở bài:
– Dẫn dắt vấn đề: Trong thời đại tri thức bùng nổ, việc học tập không chỉ dừng lại ở trường lớp.
– Nêu vấn đề nghị luận: Tự học là một kĩ năng quan trọng, một vấn đề đáng quan tâm đối với học sinh hiện nay.
b. Thân bài:
* Giải thích:
– Tự học là gì? Là quá trình tự mình chủ động tìm tòi, học hỏi, tiếp thu kiến thức mà không cần sự nhắc nhở hay ép buộc từ người khác. Tự học có thể qua sách vở, internet, qua trải nghiệm thực tế hoặc tự suy ngẫm.
* Bàn luận về vai trò, ý nghĩa của việc tự học:
– Giúp học sinh chủ động nắm bắt kiến thức, hiểu sâu và nhớ lâu hơn so với việc tiếp thu thụ động.
– Rèn luyện tư duy độc lập, khả năng sáng tạo và kĩ năng giải quyết vấn đề.
– Trong kỉ nguyên số (Cách mạng 4.0), kiến thức thay đổi liên tục, tự học là chìa khóa duy nhất để không bị tụt hậu, giúp con người học tập suốt đời.
– Dẫn chứng: Chủ tịch Hồ Chí Minh tự học ngoại ngữ, Mạc Đĩnh Chi bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để tự học, hoặc các tấm gương học sinh vùng sâu vùng xa tự học đỗ thủ khoa…
* Thực trạng vấn đề tự học của học sinh hiện nay:
– Tích cực: Nhiều học sinh có ý thức tự học rất cao, biết tận dụng công nghệ (các khóa học online, tài liệu mạng) để mở rộng hiểu biết, đạt nhiều thành tích xuất sắc.
– Tiêu cực: Một bộ phận không nhỏ học sinh thiếu tinh thần tự học. Các em học thụ động, chờ đợi thầy cô “mớm” kiến thức, học vẹt, học đối phó. Thậm chí lạm dụng AI (như ChatGPT) hoặc internet để chép bài giải sẵn mà không chịu tư duy.
* Nguyên nhân của thực trạng tiêu cực:
– Chủ quan: Lười biếng, thiếu mục tiêu học tập rõ ràng, dễ bị cám dỗ bởi mạng xã hội, game online.
– Khách quan: Chương trình học đôi khi còn nặng nề khiến học sinh mệt mỏi; phụ huynh bao bọc quá mức hoặc ép buộc học thêm tràn lan làm mất thời gian tự học.
* Hậu quả:
– Hổng kiến thức, thui chột khả năng tư duy, trở thành những “cỗ máy” thụ động, khó thích nghi với môi trường làm việc cạnh tranh sau này.
* Giải pháp:
– Đối với bản thân học sinh: Cần xác định mục tiêu học tập đúng đắn, lập thời gian biểu khoa học, rèn luyện tính kỉ luật và phương pháp tự học hiệu quả (đọc sách, ghi chép, thực hành).
– Đối với gia đình và nhà trường: Giảm tải áp lực điểm số, khuyến khích sự sáng tạo, tạo không gian và thời gian cho các em tự nghiên cứu.
c. Kết bài:
– Khẳng định lại tầm quan trọng của tự học: Là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công.
– Liên hệ bản thân: Lời hứa rèn luyện tinh thần tự học mỗi ngày.
Nhận xét đề thi môn Ngữ văn Lạng Sơn năm 2026
Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn của tỉnh Lạng Sơn năm 2026 được đánh giá là một đề thi hay, vừa sức, bám sát cấu trúc quen thuộc nhưng vẫn có độ phân hóa tốt. Phần Đọc hiểu sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa (bài thơ “Mẹ” của Viễn Phương) rất xúc động, các câu hỏi đi từ nhận biết (thể thơ, chi tiết) đến thông hiểu và vận dụng (phân tích biện pháp tu từ, rút ra bài học). Điều này đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng đọc hiểu văn bản thực sự chứ không thể học vẹt. Phần Viết có sự liên kết chặt chẽ với phần Đọc hiểu ở câu Nghị luận văn học (phân tích hình ảnh người mẹ), giúp thí sinh dễ dàng bắt nhịp cảm xúc. Câu Nghị luận xã hội về “vấn đề tự học” là một chủ đề rất thiết thực, mang tính thời sự cao, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục hiện đại và sự phát triển của công nghệ. Nhìn chung, phổ điểm dự kiến sẽ tập trung nhiều ở mức 6.5 – 7.5 điểm; để đạt điểm 8.5 trở lên, thí sinh cần có bài viết nghị luận xã hội sâu sắc, lập luận đa chiều và hành văn giàu cảm xúc ở phần nghị luận văn học.
Xem thêm đề thi các tỉnh khác năm 2026
✅ Nội dung học - ôn - luyện bám sát cấu trúc đề thi của Sở GD&ĐT
✅ Đội ngũ giáo viên top đầu, giàu kinh nghiệm luyện thi vào 10
✅ Dịch vụ hỗ trợ tối ưu 24/7 - giải đáp nhanh chóng mọi thắc mắc trong quá trình học
🎉 Ưu đãi đặc biệt: Giảm đến 45% học phí Áp dụng cho PHHS đăng ký trong tháng này!


