Dưới đây là đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn tỉnh/thành Quảng Trị năm 2026 chính thức cùng đáp án và lời giải chi tiết từng câu. Tài liệu được cập nhật ngay sau khi kỳ thi kết thúc ngày 25/5/2026.
Thông tin kỳ thi vào lớp 10 Quảng Trị năm 2026
- Ngày thi: 25/5/2026
- Môn thi: Ngữ văn
- Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
- Cấu trúc đề: Đề thi gồm 2 phần: Phần I – Đọc hiểu (4,0 điểm) với 5 câu hỏi tự luận ngắn dựa trên một ngữ liệu văn bản; Phần II – Viết (6,0 điểm) gồm 1 câu viết đoạn văn nghị luận văn học (2,0 điểm) và 1 câu viết bài văn nghị luận xã hội (4,0 điểm).
- Thang điểm: 10 điểm
Đề thi chính thức môn Ngữ văn Quảng Trị năm 2026
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ
ĐỀ CHÍNH THỨC
(Đề thi có 02 trang)
KỲ THI TUYỂN SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2026 – 2027
Khoá ngày 25/5/2026
Môn: NGỮ VĂN (CHUNG)
Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Năm lớp 9, lớp Hòa Bình đón thầy giáo chủ nhiệm mới, thầy mới chuyển công tác từ nơi khác về. Buổi học đầu tiên, cả lớp hồi hộp chờ đón thầy. Thầy bước vào lớp, ánh mắt nghiêm nghị (…). Thầy mặc áo dài tay cùng chiếc quần màu xám cũ và sơ vin rất gọn gàng. Mái tóc thầy đã điểm những sợi bạc. Khi thầy bước vào lớp, Hòa Bình nhớ mãi dáng đi hơi tập tễnh của thầy. Cả lớp đều nghĩ chân trái của thầy bị đau nhưng không ai dám hỏi. (…) Sau giờ học, cả lớp bắt đầu bàn tán xôn xao về thầy. Đứa khen thầy giảng bài dễ hiểu, đứa thì lắc đầu lo lắng bảo chắc thầy nghiêm lắm đây, … Riêng Hòa Bình thì cứ băn khoăn mãi về bước chân tập tễnh của thầy.
Giờ sinh hoạt lớp tuần này khác với tuần trước. Thầy kể cho cả lớp nghe câu chuyện về cái chân tập tễnh của thầy. Quê thầy ở đây nhưng từ khi ra trường cho đến năm ngoái, thầy công tác ở một trường thuộc vùng khó khăn của tỉnh. Thầy kể các bạn học sinh ở đó khó khăn lắm, ngoài giờ học, các bạn còn phải làm rất nhiều việc để giúp đỡ ba mẹ. Có bạn còn phải mang cả em đến lớp. Có bạn đi học được vài buổi lại ở nhà làm việc, thầy phải đến từng nhà động viên các bạn đi học. Dù vậy, nhiều bạn vẫn học rất chăm và giỏi. Thầy thương các bạn lắm nên mỗi dịp hè, thầy thường gom sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi,… mang lên cho các bạn. Hè năm ngoái, trên đường lên trường, đi qua những khúc cua quanh co, dù đã quen đường nhưng do chở đồ nặng, xe bị trượt bánh, thầy bị ngã văng ra xa khỏi xe, rồi bất tỉnh. Mãi sau có người dân phát hiện, đưa thầy đi bệnh viện. Sau tai nạn đó, giờ chân thầy thành ra tập tễnh như vậy. Thầy bảo vì thế nên mùa hè năm ngoái, thầy không mang được sách vở, quần áo, đồ chơi lên cho các bạn. Kể đến đây, giọng thầy trầm xuống. Rồi thầy chuyển công tác về trường này dù thầy rất muốn tiếp tục gắn bó với các bạn nhỏ ở đó.
– Mỗi khi trái gió trở trời, chân thầy nhức lắm. Thầy nhớ mấy đứa nhỏ trên đó, thỉnh thoảng gom được ít đồ lại nhờ người gửi lên.
Cả lớp nghẹn ngào. Mắt Hòa Bình rưng rưng.
Năm đó chuẩn bị thi chuyển cấp, nhờ những lời động viên, ân cần chỉ bảo của thầy, cả lớp Hoà Bình đều nỗ lực học tập. (…) Ngày chia tay, từng đứa học trò vụng về viết lưu bút và hứa với nhau sau này sẽ thành công để không phụ lòng thầy. Thầy chỉ cười: “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”. Cuối năm học, lớp Hòa Bình đã cùng nhau góp sách vở, quần áo, truyện,… nhờ thầy gửi đến các bạn nhỏ vùng khó khăn.
Cuộc sống cuốn mỗi người đi theo một ngả. Nhưng có những buổi chiều chậm lại, khi vô tình ngang qua ngôi trường xưa, trái tim lại gợi lên những hồi ức dịu dàng, hồi ức đẹp về một người đã từng kiên nhẫn gieo vào lòng những đứa trẻ hạt giống lòng tin và sự tử tế.
Thầy bây giờ không còn đứng lớp nữa. Mái tóc thầy bạc dần theo thời gian, sân trường giờ đã có những thế hệ học trò mới. Nhưng với Hoà Bình, người thầy năm xưa vẫn là một điều thiêng liêng trong hành trình trưởng thành, là người đã lặng lẽ thắp sáng những năm tháng đầu đời bằng trái tim hiền hậu và ánh mắt đầy yêu thương.
(Trích Viết tiếp câu chuyện hòa bình, Nguyễn Văn Chung 1, Nxb Đại học Sư phạm, 2025, tr.76-80)
1 Nguyễn Văn Chung sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của nhiều bài hát nổi tiếng như “Nhật ký của mẹ”, “Vầng trăng khóc”, “Chiếc khăn gió ấm”, …
“Viết tiếp câu chuyện hoà bình” là cuốn sách kết hợp những câu chuyện cuộc đời giản dị, chân thành và những ca khúc âm nhạc được gợi cảm hứng từ chính những câu chuyện ấy, đồng thời còn là giai điệu cuộc đời, là hành trình đầy cảm xúc, nơi âm nhạc và văn học đưa bạn đọc trở về với những điều bình dị nhất nhưng cũng thiêng liêng nhất trong cuộc sống.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra 01 lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu: Thầy thương các bạn lắm nên mỗi dịp hè, thầy thường gom sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi,… mang lên cho các bạn.
Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về câu nói của người thầy dành cho các bạn học sinh lớp chủ nhiệm trong ngày chia tay: “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”
Câu 5. (1,0 điểm) Từ nội dung câu văn: “Nhưng với Hoà Bình, người thầy năm xưa vẫn là một điều thiêng liêng trong hành trình trưởng thành, là người đã lặng lẽ thắp sáng những năm tháng đầu đời bằng trái tim hiền hậu và ánh mắt đầy yêu thương.”, hãy rút ra bài học có ý nghĩa đối với bản thân. (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật người thầy trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Thế kỉ XXI, xã hội có nhiều biến động, nhiều người chủ động để thích ứng nhưng cũng còn một số người e ngại sự thay đổi, không sẵn sàng dấn thân để trải nghiệm.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) đề xuất giải pháp khắc phục lối sống thụ động của giới trẻ hiện nay.
——— HẾT ———
(Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Đáp án và lời giải chi tiết đề thi môn Ngữ văn Quảng Trị năm 2026
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm):
- Đáp án: Ngôi kể của đoạn trích là ngôi thứ ba.
- Giải thích: Người kể chuyện giấu mặt, gọi tên các nhân vật bằng chính tên gọi của họ (thầy, Hòa Bình, các bạn học sinh) để kể lại câu chuyện một cách khách quan.
Câu 2 (0,5 điểm):
- Đáp án: Học sinh có thể chỉ ra một trong các lời dẫn trực tiếp sau:
- “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”
- Hoặc câu nói trực tiếp của thầy: “- Mỗi khi trái gió trở trời, chân thầy nhức lắm. Thầy nhớ mấy đứa nhỏ trên đó, thỉnh thoảng gom được ít đồ lại nhờ người gửi lên.”
Câu 3 (1,0 điểm):
- Chỉ ra phép liệt kê: sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi.
- Tác dụng:
- Về nội dung: Diễn tả cụ thể, đầy đủ và phong phú những món quà vật chất thiết yếu mà người thầy đã cất công chuẩn bị cho học sinh vùng cao. Qua đó, làm nổi bật tình yêu thương bao la, sự quan tâm chu đáo, tận tình và tấm lòng nhân hậu, sẵn sàng hi sinh của người thầy dành cho những học trò nghèo khó.
- Về hình thức: Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn; tạo nhịp điệu liệt kê dồn dập, nhấn mạnh vào hành động đẹp đẽ, liên tục của người thầy.
Câu 4 (1,0 điểm):
- Giải thích ý nghĩa câu nói: “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”
- “Người tốt” là người có đạo đức, có lòng nhân ái, biết yêu thương, chia sẻ, sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng.
- Câu nói thể hiện quan điểm giáo dục sâu sắc và nhân văn của người thầy: Thầy không đặt nặng áp lực về thành tích, tiền tài hay địa vị xã hội lên vai học trò. Điều thầy mong mỏi nhất ở các em không phải là sự đền đáp công ơn hay những thành công hào nhoáng, mà cốt lõi là các em trưởng thành với một nhân cách đẹp, sống tử tế và có ích cho xã hội.
Câu 5 (1,0 điểm):
- Yêu cầu hình thức: Viết thành một đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng.
- Yêu cầu nội dung: Rút ra bài học ý nghĩa từ câu văn. Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, dưới đây là gợi ý:
Đoạn văn tham khảo: Từ câu văn trên, em rút ra cho mình bài học sâu sắc về lòng biết ơn và sự trân trọng đối với những người thầy, người cô đã dìu dắt mình. Trong hành trình trưởng thành của mỗi người, những kiến thức và tình yêu thương vô điều kiện mà thầy cô trao tặng chính là hành trang quý giá nhất, là “ngọn lửa” thắp sáng tâm hồn. Vì vậy, bản thân em nhận thức được rằng mình cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức, sống tử tế và biết yêu thương sẻ chia để không phụ công lao dạy dỗ, sự hi sinh thầm lặng của những người “lái đò” vĩ đại. Đồng thời, em cũng học được cách lan tỏa tình yêu thương ấy đến với cộng đồng xung quanh.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn phân tích nhân vật người thầy.
- Yêu cầu hình thức: Viết đúng hình thức một đoạn văn, dung lượng khoảng 150 chữ. Diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
- Yêu cầu nội dung: Phân tích được những nét đẹp của nhân vật người thầy trong đoạn trích.
- Mở đoạn: Giới thiệu khái quát về nhân vật người thầy trong đoạn trích (một tấm gương sáng về tình yêu thương học trò và đức hi sinh thầm lặng).
- Thân đoạn:
- Ngoại hình và hoàn cảnh: Giản dị (quần áo cũ, tóc điểm bạc), mang dáng đi tập tễnh – di chứng của một tai nạn khi đang trên đường chở đồ quyên góp cho học sinh vùng cao.
- Phẩm chất cao đẹp: Tình yêu thương học trò vô bờ bến (đến từng nhà vận động học sinh đi học, gom góp sách vở, quần áo cho học trò nghèo, dù chuyển công tác vẫn luôn nhớ và gửi quà cho các em).
- Quan điểm giáo dục nhân văn: Lời dặn dò “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ” cho thấy thầy coi trọng việc rèn luyện nhân cách, đạo đức hơn mọi thành tích phù phiếm.
- Sức ảnh hưởng: Thầy là người truyền cảm hứng, gieo hạt giống của lòng tin và sự tử tế, khiến lớp học sinh (như Hòa Bình) thay đổi, biết nỗ lực và biết sẻ chia (góp đồ gửi học sinh vùng khó khăn).
- Kết đoạn: Khẳng định lại vẻ đẹp nhân vật và tình cảm, sự trân trọng của người đọc dành cho những người thầy như thế.
Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn nghị luận đề xuất giải pháp khắc phục lối sống thụ động của giới trẻ hiện nay.
- Yêu cầu hình thức: Cấu trúc bài văn nghị luận xã hội đầy đủ 3 phần (Mở bài, Thân bài, Kết bài), dung lượng khoảng 600 chữ. Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục.
- Yêu cầu nội dung:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Thế kỉ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và toàn cầu hóa đòi hỏi con người phải không ngừng vận động.
- Nêu vấn đề nghị luận: Tuy nhiên, một bộ phận giới trẻ hiện nay lại e ngại thay đổi, mang trong mình lối sống thụ động. Việc tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng này là vô cùng cấp thiết.
2. Thân bài:
- Giải thích ngắn gọn: Lối sống thụ động là gì? Là cách sống thiếu chủ động, lười suy nghĩ, ỷ lại vào người khác, ngại va chạm, không dám dấn thân trải nghiệm và sợ hãi trước những thay đổi của môi trường xung quanh.
- Thực trạng và Hậu quả (Lướt qua để làm nền tảng cho giải pháp):
- Nhiều bạn trẻ chỉ biết “há miệng chờ sung”, phụ thuộc vào sự sắp đặt của cha mẹ; chìm đắm trong thế giới ảo, lười vận động thể chất lẫn tư duy.
- Hậu quả: Đánh mất cơ hội phát triển bản thân, thui chột tài năng, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội, dễ bị đào thải trong thời đại 4.0.
- Trọng tâm – Đề xuất giải pháp khắc phục:
- Về phía bản thân mỗi người trẻ (Quan trọng nhất):
- Thay đổi nhận thức: Hiểu rõ giá trị của sự chủ động và dấn thân. Tuổi trẻ là để trải nghiệm và cống hiến.
- Hành động thiết thực: Tự lập ra mục tiêu, kế hoạch học tập và làm việc rõ ràng. Tích cực trau dồi kiến thức, kỹ năng mềm (ngoại ngữ, tin học, giao tiếp).
- Dám bước ra khỏi “vùng an toàn”: Tham gia các hoạt động ngoại khóa, tình nguyện, câu lạc bộ để cọ xát với thực tế. Không sợ thất bại, coi thất bại là bài học để trưởng thành.
- Về phía gia đình: Cha mẹ cần thay đổi phương pháp giáo dục, không nên bao bọc con cái quá mức. Cần trao quyền tự quyết, khuyến khích con tự lập từ những việc nhỏ nhất, đồng hành như những người cố vấn thay vì làm thay con.
- Về phía nhà trường và xã hội:
- Nhà trường cần đổi mới phương pháp giảng dạy: Giảm tải lý thuyết hàn lâm, tăng cường thực hành, thảo luận nhóm, giáo dục kỹ năng sống để kích thích tư duy phản biện và sự chủ động của học sinh.
- Xã hội, các tổ chức đoàn thể cần tạo ra nhiều sân chơi lành mạnh, các dự án khởi nghiệp, tình nguyện để thu hút giới trẻ tham gia dấn thân.
- Về phía bản thân mỗi người trẻ (Quan trọng nhất):
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Khắc phục lối sống thụ động là yêu cầu tất yếu để giới trẻ làm chủ tương lai.
- Liên hệ bản thân: Rút ra bài học hành động cho chính mình (Ví dụ: Em sẽ bắt đầu từ việc tự giác trong học tập, tích cực tham gia phong trào của trường lớp…).
Nhận xét đề thi môn Ngữ văn Quảng Trị năm 2026
Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn của tỉnh Quảng Trị năm 2026 được đánh giá là một đề thi hay, mang tính nhân văn sâu sắc và bám sát thực tiễn. Cấu trúc đề thi giữ nguyên định dạng quen thuộc (Đọc hiểu 4.0 điểm, Viết 6.0 điểm), giúp thí sinh không bị bỡ ngỡ. Phần Đọc hiểu sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa rất xúc động về tình thầy trò, kiểm tra tốt các kỹ năng nhận biết, thông hiểu và vận dụng của học sinh. Điểm sáng của đề nằm ở phần Viết. Câu nghị luận văn học yêu cầu phân tích nhân vật ngay trong ngữ liệu đọc hiểu, đây là xu hướng ra đề hiện đại, chống học vẹt, học tủ. Câu nghị luận xã hội đề cập đến “lối sống thụ động của giới trẻ” – một vấn đề rất thời sự trong thế kỷ XXI. Yêu cầu tập trung vào “đề xuất giải pháp” đòi hỏi thí sinh phải có tư duy phản biện tốt, góc nhìn đa chiều và tính thực tế cao. Nhìn chung, đề thi vừa sức, có độ phân hóa tốt, phổ điểm dự kiến sẽ tập trung nhiều ở mức 6.5 – 7.5 điểm.
Xem thêm đề thi các tỉnh khác năm 2026
✅ Nội dung học - ôn - luyện bám sát cấu trúc đề thi của Sở GD&ĐT
✅ Đội ngũ giáo viên top đầu, giàu kinh nghiệm luyện thi vào 10
✅ Dịch vụ hỗ trợ tối ưu 24/7 - giải đáp nhanh chóng mọi thắc mắc trong quá trình học
🎉 Ưu đãi đặc biệt: Giảm đến 45% học phí Áp dụng cho PHHS đăng ký trong tháng này!


