Dưới đây là đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn tỉnh/thành Đà Nẵng năm 2026 chính thức cùng đáp án và lời giải chi tiết từng câu. Tài liệu được cập nhật ngay sau khi kỳ thi kết thúc ngày 2026.
Thông tin kỳ thi vào lớp 10 Đà Nẵng năm 2026
- Ngày thi: 2026
- Môn thi: Ngữ văn
- Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian giao đề)
- Cấu trúc đề: Đề thi gồm 2 phần: Phần I – Đọc hiểu (4,0 điểm) với 5 câu hỏi tự luận ngắn dựa trên một ngữ liệu ngoài sách giáo khoa; Phần II – Viết (6,0 điểm) gồm 1 câu nghị luận văn học (viết đoạn văn 200 chữ) và 1 câu nghị luận xã hội (viết bài văn 600 chữ).
- Thang điểm: 10 điểm
Đề thi chính thức môn Ngữ văn Đà Nẵng năm 2026
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
ĐỀ CHÍNH THỨC
(Đề thi có 02 trang)
KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2026 – 2027
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
(Không kể thời gian giao đề)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Hòn ngọc Minh Châu
Trung Sỹ1
Biển xanh ngoài đảo xa, cơn bão năm ấy dữ dội lạ thường. Gió xé rách tả tơi những lá cờ trên bến cảng chưa kịp hạ. Sóng vật vã quật mình vỡ tan trên những bờ đá trầm tích ngàn năm tuổi.
Trong khe sâu, một con trai Mã Thị2 non bị sóng dữ dập vùi quăng quật. Hấp! Một luồng nước ngầm cuốn tung nó lên cao, ném nó vào vách núi. Vỏ trai bị đập vào đá nứt sứt, lớp thịt mềm bên trong lộ ra. Nó thoi thóp gắng bám vào bãi cát ngầm. Những hạt cát thô, những mảnh vụn vỏ hà3 sắc lẻm lọt vào trong lớp vỏ, cứa trên thân nó vô số vết thương đau đớn.
Bão tan. Biển trở lại hiền hoà cùng lớp vỏ trai đã dần kịp đắp lành. Nhưng không ai thấy nỗi đau bên trong của con trai Mã Thị. Đàn cá mai, cá ngân bên nhau ríu rít khoe vây, nhìn nó thờ ơ. Con sứa lửa che chiếc dù hồng có những tua dài yểu điệu trôi qua thấy nó, phì vội một bãi bọt khinh bỉ. Trông bề ngoài có vẻ quý phái thế nhưng ả sứa kênh kiệu này có nhiều tua, mỗi chiếc tua là một chiếc roi độc, quất vào ai thì kẻ đó bỏng rát. Ngay cả những con ốc hương chấm hoa cũng lánh xa Mã Thị, làm như chúng ở đẳng cấp cao hơn dù cũng sống trong tầng đáy. Chỉ còn thảm rong nho xanh dập dềnh nương theo nhịp triều trôi nổi trên bãi biển xoa dịu lòng con trai cô độc.
Với đại dương bao la, một con cá voi xanh khổng lồ và một con trai bị thương bé bỏng đều có giá trị như nhau về mặt kích thước. Nhưng với con trai non, sự kì thị cùng những hạt cát đang cứa vào lòng nó một nỗi đau khôn tả. Mã Thị rùng mình co lại, run rẩy trong nỗi cô đơn. Nó đôi khi muốn bỏ cuộc, buông mình tách vỏ cho bạch tuộc nuốt, cho sóng cuốn tan xác. Nhưng rồi bản năng sinh tồn buộc nó phải tìm một cách khác, là phải học cách sống cùng nỗi đau.
Biển cả cũng như cuộc đời, khi nghiệt ngã lúc bao dung. Có lúc giông bão mịt mù, nhưng cũng có những dòng hải lưu ấm đưa các phù du sinh vật về âm thầm nuôi con trai dần lớn. Sự vô tình của biển lại chính là chiếc nôi nuôi dưỡng đức tính kiên cường. Ngày qua ngày, trai Mã Thị tiết ra từng lớp xà cừ mỏng bọc lấy dị vật, bồi đắp dần biến nó thành những tinh cầu long lanh. Mỗi nỗi đau chất chứa trong lòng đã thành một viên ngọc. Trong bóng nước biếc xanh, chúng lấp lánh như những giọt sao rơi xuống lòng đại dương.
Bây giờ Mã Thị đã cường tráng trưởng thành. Một buổi sáng, đàn cá hồng bơi ngang qua ngạc nhiên reo lên:
– Ôi, đẹp quá! Ai ngờ cái hòm xù xì kia lại cất giữ cả một kho báu!
Ngay cả lũ ốc hương chấm hoa cũng phải khâm phục thốt lên:
– Hoá ra kiên nhẫn và chịu đựng cũng có thể tạo nên điều kì diệu.
Ả sứa lửa lại trôi qua, đong đưa ngả chiếc dù hồng mơn trớn. Mã Thị thờ ơ im lặng. Tấm vỏ trai đã dày dặn. Những chiếc tua lửa của ả chẳng thể làm tổn thương con trai được nữa.
Từ đó chẳng còn ai chê bai hay lánh xa Mã Thị. Cá ngân, cá mai thường rủ nhau đến chơi quanh. Cá đồng cờ, cá bướm nhờ con trai xoè ngọc để lấy ánh sáng múa vây khoe sắc. Có cả mấy chú cá hề màu cam vạch trắng đến làm trò góp vui. Rặng san hô nơi Mã Thị sống đã trở thành một sân khấu biển xanh rực rỡ và tráng lệ.
Câu chuyện về con trai Mã Thị được rặng san hô rì rào kể lại, lan đi khắp rạn đá. Có một người lính cũ yêu và hiểu ngôn ngữ thiên nhiên hôm ấy ra đảo đi tắm biển. Ông lặn xuống rạn san hô, vô tình nghe được. Câu chuyện khiến ông rùng mình đồng cảm, bởi ông cũng từng bị trọng thương trong cuộc chiến chống lại loài diệt chủng. Một mảnh đạn vẫn găm trong thân thể ông như con trai Mã Thị bị cát găm trong ruột.
Trở về phòng mình, ông chong đèn thâu đêm viết lại câu chuyện cảm động về con trai nhỏ trên hòn đảo cô đơn, đã kiên cường biến nỗi đau thành những viên ngọc sáng. Từ đó, hòn đảo này được gọi tên là đảo Minh Châu, nghĩa là viên ngọc sáng nơi địa đầu thân yêu của Tổ quốc chúng ta.
Đặt dấu chấm hết câu chuyện, ông mở cửa sổ nhìn ra biển đêm. Biển vẫn tiếp tục dậy sóng. Có những con trai khác ngoài đó hẳn cũng đang bị thương, cũng đang ôm những hạt cát sắc nhọn. Có kẻ chết trong tuyệt vọng. Có kẻ bọc lên thành ngọc. Tự nhiên không thiên vị ai. Chính lựa chọn của từng sinh linh4 mới quyết định số phận của chính mình.
(Báo Văn nghệ Tết Bính Ngọ, số 6+7+8/ 7-2-2026, tr.31)
Chú thích:
1 Nhà văn Trung Sỹ tên thật là Xuân Tùng, sinh năm 1960, quê ở Hà Nội, từng tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, có những sáng tác về hồi ức chiến tranh.
2 Mã Thị: tên riêng một loài trai ngọc (chú thích của tác giả).
3 hà: hàu nhỏ sống thành từng đám trên mặt đá ngập nước vùng ven biển.
4 sinh linh: sinh vật có sự sống.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra từ ngữ, hình ảnh miêu tả tác động của những hạt cát thô, những mảnh vụn vỏ hà sắc lẻm sau khi lọt vào trong lớp vỏ con trai Mã Thị.
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu sắc thái nghĩa của từ run rẩy trong câu văn: Mã Thị rùng mình co lại, run rẩy trong nỗi cô đơn.
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích ý nghĩa của chi tiết sau trong việc khắc hoạ con trai Mã Thị:
Ngày qua ngày, trai Mã Thị tiết ra từng lớp xà cừ mỏng bọc lấy dị vật, bồi đắp dần biến nó thành những tinh cầu long lanh. Mỗi nỗi đau chất chứa trong lòng đã thành một viên ngọc.
Câu 5. (1,0 điểm) Bày tỏ suy nghĩ của em về một bài học rút ra từ câu văn: Chính lựa chọn của từng sinh linh mới quyết định số phận của chính mình. (Trình bày không quá 07 dòng)
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người lính cũ trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bằng trải nghiệm cá nhân, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày những việc các bạn trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân trong cuộc sống.
– HẾT –
Đáp án và lời giải chi tiết đề thi môn Ngữ văn Đà Nẵng năm 2026
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
– Ngôi kể của văn bản: Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, gọi tên các nhân vật như “con trai Mã Thị”, “người lính cũ”…).
Câu 2:
– Từ ngữ, hình ảnh miêu tả tác động của những hạt cát thô, mảnh vụn vỏ hà sắc lẻm sau khi lọt vào trong lớp vỏ con trai Mã Thị là:
+ “cứa trên thân nó vô số vết thương đau đớn”.
+ “cứa vào lòng nó một nỗi đau khôn tả”.
Câu 3:
– Sắc thái nghĩa của từ “run rẩy” trong câu văn: Thể hiện trạng thái rung động liên tiếp, yếu ớt của thể xác do sự đau đớn tột cùng từ vết thương mang lại. Đồng thời, nó còn bộc lộ sự sợ hãi, yếu đuối, tủi thân và tổn thương sâu sắc về mặt tinh thần của con trai Mã Thị khi phải đối mặt với sự ghẻ lạnh, kì thị, bỏ rơi của đồng loại giữa đại dương bao la.
Câu 4:
– Phân tích ý nghĩa chi tiết:
+ Về mặt tả thực: Chi tiết miêu tả quá trình sinh học tự nhiên của loài trai ngọc – dùng chính chất xà cừ của cơ thể để bao bọc lấy những dị vật gây tổn thương, từ đó tạo ra những viên ngọc trai lấp lánh.
+ Về mặt ẩn dụ (khắc họa nhân vật): Chi tiết này khắc họa vẻ đẹp kiên cường, sức sống mãnh liệt và sự nhẫn nại phi thường của con trai Mã Thị. Thay vì buông xuôi trước nghịch cảnh và nỗi đau, nó đã chọn cách đối diện, âm thầm chịu đựng và nỗ lực tự chữa lành. Nỗi đau không làm nó gục ngã mà trở thành động lực để nó kết tinh nên những giá trị tốt đẹp, rực rỡ nhất (“viên ngọc”). Qua đó, tác giả ngợi ca bản lĩnh biến nghịch cảnh thành thành quả đáng tự hào.
Câu 5:
– Gợi ý suy nghĩ về bài học (Học sinh trình bày thành đoạn văn ngắn không quá 07 dòng, đảm bảo tính logic, thuyết phục):
Câu văn mang đến bài học sâu sắc về tính tự quyết và tinh thần trách nhiệm đối với cuộc đời mỗi người. Đứng trước những khó khăn, thử thách hay bi kịch của cuộc sống, hoàn cảnh chỉ là yếu tố khách quan, chính thái độ đối diện và cách chúng ta lựa chọn hành động (buông xuôi, gục ngã hay kiên cường vươn lên, nỗ lực vượt qua) mới là yếu tố then chốt định đoạt tương lai, thành bại của bản thân. Từ đó, mỗi người cần rèn luyện bản lĩnh vững vàng, thái độ sống tích cực để luôn đưa ra những lựa chọn đúng đắn, tự kiến tạo nên một cuộc đời ý nghĩa và rực rỡ.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Phân tích nhân vật người lính cũ
a. Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận: Viết đúng hình thức đoạn văn (khoảng 200 chữ), không gạch đầu dòng, diễn đạt mạch lạc.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích đặc điểm, vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật người lính cũ trong văn bản.
c. Triển khai vấn đề: Học sinh có thể linh hoạt các thao tác lập luận, bám sát ngữ liệu để làm nổi bật các ý sau:
– Hoàn cảnh và xuất thân: Là một người lính từng vào sinh ra tử trong cuộc chiến chống lại loài diệt chủng, mang trên mình vết thương chiến tranh (“một mảnh đạn vẫn găm trong thân thể”).
– Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế: Ông có tình yêu thiên nhiên sâu sắc, thấu hiểu được “ngôn ngữ thiên nhiên”, lắng nghe được câu chuyện rì rào của rạn san hô về con trai Mã Thị.
– Sự đồng cảm, nhân ái sâu sắc: Ông “rùng mình đồng cảm” với nỗi đau của con trai nhỏ vì tìm thấy sự tương đồng giữa mảnh đạn trong cơ thể mình và hạt cát găm trong ruột trai. Nỗi đau thể xác không làm ông chai sạn mà khiến trái tim ông thêm thấu cảm với muôn loài.
– Hành động ý nghĩa, trân trọng cái đẹp: Thức thâu đêm viết lại câu chuyện cảm động, đặt tên cho hòn đảo là “đảo Minh Châu” để tôn vinh sự kiên cường và vẻ đẹp sinh ra từ nỗi đau. Ông có cái nhìn triết lý, sâu sắc về quy luật sinh tồn và sự lựa chọn của mỗi sinh linh trong cuộc đời.
– Đánh giá: Nhân vật người lính cũ tuy xuất hiện ngắn ngủi nhưng để lại ấn tượng về một con người kiên cường, giàu lòng trắc ẩn, đại diện cho vẻ đẹp của những người lính Bộ đội Cụ Hồ không chỉ anh dũng trong chiến đấu mà còn mang tâm hồn nhân văn, sâu sắc trong thời bình.
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn nghị luận xã hội về những việc giới trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Có đủ Mở bài, Thân bài, Kết bài. Dung lượng khoảng 600 chữ.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Những việc các bạn trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân trong cuộc sống (kết hợp trải nghiệm cá nhân).
c. Gợi ý triển khai:
- Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất để khám phá và phát triển bản thân.
- Nêu vấn đề nghị luận: Để không sống hoài, sống phí, mỗi bạn trẻ cần có những hành động thiết thực để tự tin khẳng định giá trị bản thân trong cuộc sống.
- Thân bài:
- Giải thích: “Khẳng định bản thân” là việc thể hiện được năng lực, phẩm chất, cá tính riêng biệt của mình, tạo ra những giá trị tích cực được cộng đồng và xã hội công nhận. “Tự tin” là tin tưởng vào khả năng của chính mình.
- Vì sao cần tự tin khẳng định bản thân? Giúp ta phát huy tối đa tiềm năng, nắm bắt cơ hội thành công; tạo dựng vị thế trong xã hội; sống một cuộc đời ý nghĩa, không mờ nhạt, hòa lẫn vào đám đông.
- Những việc các bạn trẻ cần làm (Trọng tâm):
- Trau dồi tri thức và kỹ năng: Học tập không ngừng nghỉ, trang bị kiến thức chuyên môn và kỹ năng mềm (giao tiếp, ngoại ngữ, công nghệ…) để có nền tảng vững chắc.
- Rèn luyện đạo đức, nhân cách: Khẳng định bản thân không chỉ bằng tài năng mà còn bằng lối sống tử tế, biết yêu thương, chia sẻ và có trách nhiệm với cộng đồng.
- Dám nghĩ, dám làm, bước ra khỏi vùng an toàn: Không sợ thất bại, dũng cảm đối mặt với thử thách, biến khó khăn thành cơ hội rèn luyện bản lĩnh (liên hệ hình ảnh con trai Mã Thị trong phần Đọc hiểu).
- Thấu hiểu chính mình: Nhận thức rõ điểm mạnh để phát huy, điểm yếu để khắc phục. Không ngừng tự phản tỉnh và hoàn thiện.
- Kết hợp trải nghiệm cá nhân: Học sinh đưa ra những ví dụ từ chính cuộc sống của mình (Ví dụ: Từng rụt rè nhưng đã mạnh dạn tham gia một câu lạc bộ, nỗ lực đạt giải thưởng trong một kì thi, hoặc vượt qua một thói quen xấu để trở nên tốt hơn…).
- Bàn luận mở rộng (Phản đề): Phê phán những người trẻ sống thu mình, tự ti, thiếu ý chí vươn lên; hoặc ngược lại, những người hiểu sai về “khẳng định bản thân” dẫn đến lối sống tự cao tự đại, thể hiện mình bằng những hành vi tiêu cực, lệch chuẩn.
- Kết bài:
- Khẳng định lại tầm quan trọng của việc tự tin khẳng định bản thân.
- Rút ra thông điệp hành động: Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất ngay hôm nay để kiến tạo nên giá trị của riêng mình.
Nhận xét đề thi môn Ngữ văn Đà Nẵng năm 2026
Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn của Sở GD&ĐT Đà Nẵng năm 2026 được đánh giá là một đề thi hay, giàu tính nhân văn và có độ phân hóa tốt. Cấu trúc đề giữ nguyên sự ổn định so với các năm trước, tạo tâm lý quen thuộc cho thí sinh. Điểm sáng của đề nằm ở phần ngữ liệu Đọc hiểu – văn bản “Hòn ngọc Minh Châu” của nhà văn Trung Sỹ. Đây là một câu chuyện ngụ ngôn hiện đại mang nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc về nỗi đau, sự kiên cường và giá trị của sự lựa chọn.
Các câu hỏi Đọc hiểu đi từ mức độ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng, đòi hỏi học sinh không chỉ đọc kỹ văn bản mà còn phải có khả năng cảm thụ văn học tốt (đặc biệt ở câu 3 và câu 4). Phần Viết có sự liên kết chặt chẽ với phần Đọc hiểu. Câu nghị luận văn học yêu cầu phân tích nhân vật người lính cũ – một góc nhìn rất tinh tế, đòi hỏi sự thấu cảm. Câu nghị luận xã hội mang tính thực tiễn cao, yêu cầu học sinh kết hợp “trải nghiệm cá nhân”, giúp các em tự do bày tỏ quan điểm, tránh lối viết văn mẫu sáo rỗng. Nhìn chung, đề thi vừa sức nhưng để đạt điểm 8-9, thí sinh cần có tư duy sâu sắc và kỹ năng diễn đạt mạch lạc, giàu cảm xúc.
Xem thêm đề thi các tỉnh khác năm 2026
✅ Nội dung học - ôn - luyện bám sát cấu trúc đề thi của Sở GD&ĐT
✅ Đội ngũ giáo viên top đầu, giàu kinh nghiệm luyện thi vào 10
✅ Dịch vụ hỗ trợ tối ưu 24/7 - giải đáp nhanh chóng mọi thắc mắc trong quá trình học
🎉 Ưu đãi đặc biệt: Giảm đến 45% học phí Áp dụng cho PHHS đăng ký trong tháng này!


