Đối sánh kết quả thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn tại 63 địa phương từ 2021–2025 cho thấy điểm trung bình cả nước tăng, nhưng chênh lệch vẫn cao, phản ánh chất lượng dạy học và mức độ đổi mới khác nhau giữa các vùng. Bài viết phân tích nhóm địa phương nổi bật, trung bình khá, nhóm duy trì thấp cũng như nguyên nhân và xu hướng trong thời gian tới, giúp phụ huynh, học sinh và nhân sự giáo dục nhìn nhận rõ hơn thực trạng dạy – học môn Ngữ văn trên toàn quốc.

Tổng quan xu hướng điểm trung bình Ngữ văn toàn quốc 2021–2025
Kết quả đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn trong giai đoạn 2021–2025 cho thấy điểm trung bình cả nước tăng liên tục từ 6,47 (2021), lên 6,51 (2022), 6,86 (2023), đạt 7,23 (2024) và giảm nhẹ còn 7,0 (2025). Đây là dấu hiệu học sinh ngày càng thích ứng tốt với cấu trúc đề thi mới, đặc biệt ở các phần đọc hiểu và nghị luận xã hội. Tuy nhiên, sự dao động điểm số giữa các năm phản ánh một thực tế là chất lượng dạy – học Ngữ văn vẫn chưa ổn định bền vững, còn phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật làm bài hơn là năng lực thực chất.
Biến động thứ hạng các địa phương khi thay đổi cấu trúc đề thi
Năm 2025, đề thi tăng điểm phần đọc hiểu lên 4 điểm, giảm nghị luận còn 6 điểm, sử dụng ngữ liệu ngoài SGK và chú trọng đánh giá năng lực thực tế, dẫn đến biến động mạnh thứ hạng giữa các địa phương so với năm 2024. Có 32 địa phương vươn lên về thứ hạng, nổi bật như Quảng Trị tăng 42 bậc, TP.HCM 30 bậc, Bến Tre 29 bậc, Hậu Giang 26 bậc, Cần Thơ và Cà Mau cùng tăng 20 bậc. Ngược lại, 31 địa phương tụt hạng, trong đó Ninh Bình giảm sâu nhất (44 bậc), tiếp theo là Bắc Ninh (40 bậc), Hòa Bình (24 bậc), Lạng Sơn, Lâm Đồng (18 bậc), Kon Tum, Nam Định, Hải Phòng (17 bậc).



Nhóm địa phương dẫn đầu và trung bình khá
Nhóm duy trì thành tích ổn định có 15 địa phương (23,8%), nhiều nơi thuộc đồng bằng sông Hồng (8 địa phương), Bắc Trung bộ, đồng bằng sông Cửu Long (mỗi vùng 3 địa phương), trung du miền núi phía bắc (1 địa phương). Các địa phương như Nghệ An hai năm liên tiếp đạt trung bình trên 8,0 điểm, Hải Phòng xếp thứ 4/63, Hà Nội có thời điểm xếp thứ 4 (năm 2025). Điểm chung là truyền thống dạy – học Văn vững vàng, đội ngũ giáo viên ổn định, học sinh được rèn luyện bài bản.
Nhóm trung bình khá chiếm 44,4% (28 địa phương), trải rộng trên cả nước nhưng có sự biến động lớn thứ hạng qua các năm. Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ và TP.HCM (điểm bình quân 5 năm là 6,647; xếp hạng 33/63) tiêu biểu cho xu hướng này, với nhiều địa phương tăng thứ hạng nhanh như Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Cần Thơ. Bắc Trung bộ, duyên hải miền Trung và trung du miền núi phía Bắc biến động mạnh do thích ứng với đổi mới môn học còn hạn chế.
Các nhóm địa phương gặp khó khăn và nguyên nhân
Nhóm dưới 6,5 điểm chủ yếu tập trung ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, một số địa phương Bắc Trung bộ và xuất hiện cả ở các trung tâm như Đà Nẵng, Đồng Nai. Tại đây, học sinh hạn chế tiếng Việt học thuật, thiếu môi trường đọc – viết, giáo viên giỏi hiếm, coi nhẹ môn Ngữ văn, dẫn đến điểm số duy trì thấp. Đà Nẵng dù có điều kiện giáo dục tốt nhưng vẫn bị xem là “môn phụ”, dạy học, chấm bài theo hướng an toàn, chưa bám sát đổi mới.
Đổi mới phương pháp dạy học – giải pháp nâng cao thực chất
Việc thay đổi ngữ liệu đề thi, không dùng lại SGK, nhằm hạn chế học tủ, học thuộc, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tư duy ngôn ngữ, lập luận độc lập. Kết quả thực tế cho thấy chỉ những địa phương chú trọng rèn luyện năng lực đọc – viết – lập luận sáng tạo gắn với thực tế mới giữ được thành tích ổn định lâu dài. Quan điểm “phát triển kinh tế không đồng nghĩa với điểm số môn Văn cao” ngày càng rõ nét, chỉ khi Ngữ văn được coi trọng, đổi mới thực chất từ dạy – học đến đánh giá, thành tích mới bền vững.
Phụ huynh và học sinh cần lưu ý rằng, năng lực Ngữ văn chỉ bền vững khi được rèn luyện thật sự, không phụ thuộc đề thi từng năm. Nhà trường, giáo viên và địa phương cần tiếp tục đổi mới thực chất, tránh lối mòn học thuộc, để học sinh thích nghi tốt với các kỳ thi đổi mới, nâng cao năng lực và thành tích trong thời gian tới.




